Đức Huỳnh Giáo Chủ Là Ai - Đức Huỳnh Giáo Chủ & Phật Giáo Hòa Hảo


*

*
Đức Huỳnh Giáo ChủNgài là trưởng nam của Đức Ông Huỳnh Công Bộ,lúc bấy giờ làm Hương Cả làng Hoà Hảo một gia đình trung lưu, nhiều phúc hậu vànhiều uy tín với nhân dân địa phương. Thân mẫu của Ngài là Đức Bà Lê Thị Nhậm.Đức Ông có hai đời vợ, đời vợ trước sanh được hai gái, hiện nay người chị thứ haicòn sống goá chồng, còn người em thì đã chết. Khi bà lớn mất, Đức Ông tục huyềnvới bà Lê Thị Nhậm sanh được ba người con:Con đầu là Đức Huỳnh Giáo Chủ.Con thứ là Huỳnh Thị KimBiên.
Đức Huỳnh Giáo Chủ thường được gọi làThầy Tư Hoà Hảo hay tôn xưng Đức Huỳnh Giáo Chủ còn tín đồ thì gọi Ngài là Thầyhay Đức Thầy, và nền Đạo của Ngài khai sáng được mang danh là Phật Giáo HoàHảo, một tông phái thành lập tại làng Hoà Hảo. Từ trước đến nay, việc lấy địadanh làm tông phái là điều thường thấy trong đạo Phật. Như Phái Thiên Thai Tôngbên Trung Hoa sở dĩ thành danh là vì xây dựng già lam trên núi Thiên Thai cũngnhư phái Trúc Lâm Yên Tử ở nước Việt Nam chúng ta cũng được thành danh do NgàiĐiều Ngư Giác Hoàng tức Vua Trần Nhân Tông khai Sáng một Thiền Phái Việt Namtrên núi Yên Tử, Tỉnh Quảng Yên.Tánh Tình: Ngay từ khi còn bé, Ngài đã tỏ ra hơn người trong mọiphương diện. Tánh Ngài điềm đạm, ít chịu trửng giỡn cợt đùa, thường tìm nơithanh vắng ngồi trầm tư mặc tưởng. Ngài không thích đờn ca xướng hát; vì thếnhững chỗ hội hè đình đám, những nơi tụ hợp đông người, Ngài luôn luôn xa lánh.Từ lúc bé bỏng, Ngài đã có tánh hiếu sanh, không chịu bắt bướm, chuồn chuồn haybắt dế để chọi nhau chơi. Những thú vui như đá cá thia thia, đá gà, những thúvui có ý sát hại, hay làm tổn thương thì Ngài không thích. Có lần Ngài raruộng, gặp con cóc, Ngài la lên nhưng đến khi các trẻ khác bu lại kiếm bắt thìNgài lấy chơn đè lấy con cóc cho mọi người không nhìn thấy. Đến khi chúng bạntản ra, Ngài mới lấy chơn lên cho con cóc thoát nạn. Lòng hiếu sanh của Ngài đãbiểu lộ qua nhiều cử chỉ nhơn từ thương xót các loài vật.Ngài có tánh cả thẹn đối với phụ nữ. Khi đến tuổi trưởng thành, hễ ai đề cậpđến vấn đề hôn nhơn là bị Ngài phản đối ngay. Ngài thường tuyên bố: thích sốngđộc thân để được tự do hoạt động.
*
CHÂN DUNG ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦLÚC CÒN ĐI HỌC TẠI TÂN CHÂU

Học lực:
Từ khi cập sách đến trường,Ngài đã tỏ ra xuất sắc hơn chúng bạn. Ban sơ, Đức Ông cho Ngài học các lớp sơđẳng tại trường Hòa Hảo lúc bấy giờ tạm lấy nhà Công sở trước đình thần làmtrường sở. Năm 1950, Công sở bị dở; nay là Thư viện Hòa Hảo. Cứ như được biếtniên học năm 1927-1928, Ngài đã học với ông Giáo Phan Văn Khoái.
Sau khi học hết các lớp sơ đẳngở Hòa Hảo, Đức Ông cho Ngài tiếp tục học tại trường Tiểu học bổ túc Tân Châuvới ông giáo Lê Văn Tám dạy lớp nhì, năm thứ nhất(Cours Moyen I). Tronglúc ấy, Ngài ở trọ nhà ông Huỳnh Văn Sánh, thợ bạc ở Tân Châu. Sau khi đậu bằngTiểu học (Certificat dEtudes élémentaires), Ngài phải thôi học vì bịnh hoạn,mặc dầu Đức Ông đủ sức cho Ngài tiếp tục học thêm nữa.
*
ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦPHẬT GIÁO HOÀ HẢO

Sức Khỏe: –Thật ra thì lúc nào Ngài cũngđau ốm luôn, không mấy khi được khỏe mạnh. Lâu lâu lại phát lên cơn sốt rét dữdội, vì vậy mà Ngài xanh xao ẻo lả, có lúc mất ăn mất ngủ nhiều ngày, xem chừngbịnh tình trầm trọng lắm, có thể chết được.
Đức Ông Đức Bà hết sức lo buồn,hằng kiếm thầy chữa trị mà bịnh vẫn không thấy thuyên giảm. Ban đầu còn chạychữa ở những thầy thuốc Bắc thuốc Nam trong làng mà không hết, trái lại bịnhtrạng thì xem khác thường khi mạnh khi yếu khiến mọi người nghi là mắc bịnh tàvà nghĩ đến cách chữa trị bằng pháp thuật bùa ngải.Nghe đồn ở núi Trà Sư có ông Thầy Xom hay Đạo Xom, tục danh là Lê Hồng Nhật mộttu sĩ nổi tiếng giỏi pháp thuật, đã từng chữa mạnh nhiều bịnh bằng bùa ngải.Đức Ông bèn cho chở Ngài đến nhưng rốt cuộc cũng không thấy hiệu quả.
Ngoài ra, Đức Ông còn đưa Ngàixuống ông Bảy Còn ở chợ Cà Mau thôn Long Kiến nhờ chữa trị. Ông Bảy là cháu nộicủa ông ĐạoThắng một cao đệ của Đức Phật Thầy Tây An và đã được truyền nhiềudiệu pháp để cứu dân độ thế. Ông Đạo Thắng truyền lại cho thân phụ ông Bảy vàông này truyền trao lại cho ông Bảy tiếp tục nghiệp ông cha. Ông Bảy vốn làngười thân thuộc của Đức Ông nên Đức Ông rất tin cậy, đưa Ngài đến nhờ chữatrị. Ban đầu thấy có mòi thuyên giảm nhưng về sau bịnh vẫn không thấy gì thayđổi.
Nghe đồn ở Mặc Cần Dưng có ôngLục Cả chữa bịnh tà rất hay, Đức Ông cũng lo chở Ngài đến nhờ chữa trị, nhưngbịnh Ngài không khác gì giả ngộ, mới thấy nguy kịch đó, lại liền thấy mạnhkhỏe.
Như lần chở Ngài đi, sau bảyngày bỏ ăn bỏ ngủ, tưởng là nguy kịch lắm, chẳng ngờ lúc đi ghe, Ngài lấy cơmnguội ra ăn hết hai tô lại uống thêm hai tô nước sông. Phàm người bỏ ăn năm bảyngày, muốn ăn lại phải cho uống nước cháo rồi lần lần cho ăn cháo lỏng, dạ dàymới chịu nổi. Vậy mà Ngài vẫn khỏe như người thường và không thấy sao cả.
Lúc bấy giờ lại có tin đồn bếpNgoan, tục danh là Lê Minh Chiếu, ở Chợ Vàm một tay lão luyện về bùa ngải củaMiên và Xiêm, từng học với Thầy ngải ở Tà Lơn và chữa lành các bịnh bị thư, bịngải hay mắc bịnh tà. Trong lúc bức ngặt, Đức Ông cho chở Ngài lên Chợ Vàm,nhưng bếp Ngoan chữa cũng trơ trơ.
Điều đáng lo ngại nhứt là mấylúc sau nầy, Ngài lại vướng thêm bịnh huợt tinh khá trầm trọng. Do chứng bịnhnầy mà Ngài trở nên xanh xao vàng vọt, con người tiều tụy, không còn thiết gìđến việc học hành. Về sau Ngài có thổ lộ cho một tín đồ ở Bạc Liêu biết: đó làơn trên định dọn phần xác tinh khiết, chẳng khác nào sút ve cho sạch trước khiđựng lấy nước trong.
*
Đức Huỳnh Giáo Chủ Phật Giáo Hoà Hảo
Năm 1939, sau khi hướng dẫn thân phụ điviếng các am động miền Thất sơn và Tà lơn – những núi non được nổi tiếng linhthiêng hùng vĩ – Ngài tỏ ra đại ngộ. Vào buổi chiều ngày 18-5 Kỷ-Mão (1939), trên khoảng sân rộng, hoa kiểng thi nhau khoe tươi phô thắm, bên bàn thông thiên, Đức Thầy sắp bày hương án cử hành nghi lễ Cáo Hoàng Thiên, đánh dấu ngày lịch sử Ngài chính thức nhận lấy sứ mạng thiêng liêng của Ngọc Đế và của Đức Thế Tôn mà hoằng khai Phật Pháp chấn hưng Phật Giáo, Ngài có bài tự thuật :Ngọc Toà, Phật Tổ nấy sai Ta,Xuống cứu thế gian nẻo vậy tà.Hiệp sức tớ Thầy truyền Diệu Pháp,Cho đời thấu rõ Đạo Ma-Ha!Ngay sau khi làm lễ Cáo Hoàng Thiên, Đức Thầy trình Đức Ông dùng ngay sảnh đường đặt nghi thức đủ Ba Ngôi Tam Bảo để làm chỗ trọng tâm quy ngưỡng cho bổn đạo chúng sanh từ bốn phương về đảnh lễ quy y Phật Pháp. Ngài còn ngõ lời nhờ Đức Ông lên quận đường Tân Châu xin phép đổi xin phép đổi nơi này thành ngôi chùa lấy hiệu là "Kim Sơn Tự".Mấy vần thi duới đây, Đức Thầy không dấu diếm trọng trách của Ngài khi thời cơ chuyển đến:- Phi phi bổng xuất mặt Huỳnh Long,Dụng lối Bá Nha réo Lạc Hồng!và- Hòa thôn Hảo cảnh xứ chi ta, Tạm dắt nhơn sanh khỏi ái hà. Tạo xác Huỳnh danh thanh sắc trẻ, Chờ thời Thiên định thiết hùng ca!
Ra làm bịnh:
Bắt đầu từ năm Kỷ Mão, năm Ngàiđược 19 tuổi, sau khi thôi học về nhà, Ngài thường tỏ ra nhiều cử chỉ kỳ lạ,khi thì nằm thim thíp, bỏ ăn bỏ ngủ, lúc thì mạnh mẽ như người không bịnh, điđứng như thường, nói năng hoạt bát.
Đức Ông cũng như bao nhiêungười khác, đều cho Ngài có tà ma quỉ quái chi dựa vào nên mới có trạng tháikhác thường như vậy.
Mặc dầu, Đức Ông lo chữa chạycho Ngài tận tình, nhưng Ngài thì cứ nói rằng không có bịnh chi cả, vì nể ĐứcÔng nên mới đi chạy thầy chạy thuốc như vậy.
Một hôm, Ngài đi lên đầu trênxóm dưới truyền rao: nếu ai có mắc bịnh chi, cứ đem lại cho Ngài chữa trị cho.Thấy vậy Đức Ông bĩu môi: Bịnh mình chề ề như vậy mà không lo, còn đòi đi chữabịnh người ta.
Ban đầu không ai tin Ngài cóthể chữa bịnh, nhưng có một vài bịnh ngặt nghèo, kể như hết phương cứu chữa,nghe Ngài nói chữa được nên cũng liều đem đến, may ra có phép Tiên phép Phật gìchăng. Vả lại, Ngài không có làm chi nguy đến tánh mạng con bịnh, hơn nữaphương pháp của Ngài dùng để chữa hay thuốc thang của Ngài cho uống không có gìnguy hiểm. Vì vậy mà người ta đánh liều chở bịnh đến nhờ Ngài cứu chữa. Nhưnglạ lùng thay, bịnh nào Ngài chịu chữa cũng đều được mạnh lành, mặc dầu đã tốnbao nhiêu tiền của và thuốc men.
Do cách chữa trị huyền diệu ấymà tiếng đồn lan rộng ra. Nhứt là từ ngày Ngài chữa bịnh cho con gái của ôngHương chủ Hùng ở Hưng Nhơn mắc bịnh trùng, thập tử nhứt sanh, đã chạy chữa đủthầy pháp thầy bùa trong vùng mà không hết. Nghe Ngài chữa bịnh bằng phươngpháp huyền diệu nên chở ra nhờ Ngài chữa trị.
Ngài dùng nước rải vào mặt bịnhnhân khiến bất tỉnh, ngất xỉu. Ngài bỏ đó, thân nhân lấy làm lo ngại, nhưngNgài bảo khiêng vào nhà sau, đợi đến giờ Tý, Ngài sẽ chữa cho. Quả nhiên khiđến giờ, Ngài đem một chén nước lã bảo cạy miệng ra đổ. Trong chốc lát, cô ấytỉnh lại rồi mạnh luôn và từ đó gia đình của Hương chủ Hùng không còn lo ngạivề bịnh trùng nữa. Bắt đầu từ khi chữa dứt bịnh trùng cho gia đình ông Hươngchủ Hùng, tiếng tăm của Ngài vang dậy khắp nơi. Chừng đó ngày nào người ta cũngnườm nượp chở bịnh đến, nhứt là các bịnh điên hay bịnh tà, xưa nay có tiếng làhung dữ không ai chữa nổi, nay chở đến chật nhà chật cửa.
Lúc bấy giờ nhà Đức Ông chậtnức, nào bịnh nhơn, nào những người hiếu kỳ đến xem chữa bịnh, chen nhau khôngcòn chổ trống. Có nhiều con bịnh hết sức hung tợn, ở nhà la ó hay hành hungkhông ai dám lại gần, phải dùng thế bắt trói mới đem đi được. Thế mà khi đếnNgài, Ngài bảo lấy dây chuối cột tay dẫn lên, bịnh nhơn riu ríu đi theo khôngchống cự. Cũng có con bịnh chưa chịu phép, còn la ó hay múa tay múa chơn, Ngàirút chiếc khăn quăng ra và hét: Chư Thần đâu... để vậy sao? Hét vừa dứttiếng thì bịnh nhơn chạy đến chụp lấy chiếc khăn quấn vào tay, càng siết chặthai tay lại, vừa khóc lóc van lơn xin Ngài tha thứ.
Ngài nói: Nếu biết ăn năn thìhãy xuất ra, người ta có vợ có chồng rồi, đừng có xen vào phá gia cang ngườita. Hãy hứa không còn phá nữa, ta mới dung thứ.Con bịnh khóc lóc hứa từ nay không còn dám phá nữa. Ngài bảo mở trói, con bịnhtự tháo chiếc khăn ra. Ngài dạy lại lễ Phật, cho uống một chén nước lã rồi ravề.
Ngoài bịnh trùng, bịnh điên,Ngài còn chữa nhiều thứ bịnh khác nữa, như dịch tả, phung đơn, nhứt là caithuốc phiện, bỏ rượu một cách tài tình.
Phương pháp chữa trị của Ngàihết sức giản dị, Ngài cho uống nước lã, hoặc giấy vàng hay giấy nhựt báo xé nhỏra. Về phương dược thì các thứ lá cây như: lá xoài, lá ổi, lá mít . . ., cácthứ bông như: bông trang, bông thọ. Còn về niệt để đeo thì dùng chỉ trắng selại, có khi không có chỉ thì dùng dây chuối, dây bố . . .
Chỉ có bấy nhiêu dược liệu, hếtsức giản dị, không tốn tiền mà bịnh nào uống vào cũng khỏi. Lạ nhứt là nhữngngười ghiền á phiện hay ghiền rượu, chỉ uống nước lã mà bỏ rượu bỏ á phiện cáimột, không hành phạt chi chi cả.Ngoài ra Ngài cũng có cho toa thuốc Bắc, ai có mắc bịnh, cứ theo đó bổ về sắcuống: mười bịnh hết mười, khỏi phải đem đến Ngài chữa trị. Những phương thuốccòn ghi chép trong quyển “Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ”. Đến ngày nay nhiều ngườimắc bịnh đã theo toa thuốc ấy hốt về uống vẫn thấy hiệu nghiệm như một thứthuốc Tiên.
Ngài chữa lành được các chứng hiểmnghèo với phương pháp thật giản đơn là chỉ dùng lá cây, nước lã, giấy vàng,khiến cho các Bác sĩ Tây y, các dược sư Đông y lẫn các danh gia phù thủy đềuphải kinh dị.Song song với việc chữa bịnh, Ngàithuyết pháp thao thao bất tuyệt. Nhiều thi sĩ văn gia hoặc luật gia nghe tiếng,đến chất vấn, đều phải nhận Ngài là một bậc siêu phàm. Cũng từ năm 1939, Ngài sáng tác thậtnhiều kệ giảng, nội dung tiên tri chiến cuộc sẽ tràn lan, nhân loại sẽ điêulinh và kêu gọi mọi người nên bỏ dữ về lành, thực hành tứ ân, trau dồi thiềntịnh để trở thành thiện nhân trong xã hội và tiến đến sự nhập diệu cõiđạo. Nhìn qua công đức giảng dân cứu chúng,người ta thấy Ngài chữa được hằng vạn chứng hiểm nghèo, thuyết pháp hằng ngànlần trước đại đa thính chúng và sáng tác sáu quyển Kệ Giảng cùng với hằng trămbài thi ca, văn có giá trị siêu việt.
*
Đức Huỳnh Giáo Chủ

Giáo Pháp của Đức Giáo Chủ tuy cao siêu nhưng không kém phầnthực tế, có thể áp dụng cho bất cứ nơi nào trên thế gian. Ngài là một nhà đạicách mạng tôn giáo. Vì trước khi Ngài ra đời, Đao Phật Việt Nam bị đình đốn sailạc, và Đạo Phật Thế giới chưa nói tới việc canh tân. Ngài đã cắt bỏ tất cảnhững nghi lễ phiền toái mà nguyên căn không phải của Đức Thích Ca chủ trương,đồng thời còn canh tân nhiều điểm trong phương pháp thực hành đạo Phật mà trướckia không hề có.
Nhờ Giáo Pháp thích thời đó nên chỉ trong một thời gian ngắn,Ngài thu phục được hai triệu tín đồ tại miền Nam Việt Nam và ảnh hưởng mỗi lúccàng lan rộng thêm ra.
Vì Ngài được thiên hạ quá hoan nghinh nên nhà đương cuộc bắtđầu để ý đến sự bành trướng lạ thường của phong trào tôn giáo Phật Giáo HòaHảo, nên một biện pháp chánh trị đã được đem ra thi hành và Ngài phải bị lưutrú tại làng Nhơn Nghĩa (Cần thơ).
*
ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦTẠI SÀI GÒN 1943

Ở đây, Ngài lại được người ta tôn sùng hơn trước nữa, làm chonhà cầm quyền phải đem Ngài an trí tại nhà thương Chợ quán. Sau đó, Ngài lại bịdời về Bạc Liêu đến năm 1942.

B.Giai Đoạn Tranh Đấu

Khi người Nhựt nhúng tay vào thời cuộc Đông dương trong hồithế giới chiến tranh kỳ nhì, họ cưởng bách đem Ngài về Saigòn thì Ngài buộclòng tá túc tại Hiến binh Nhựt để chờ đợi thời cơ thuận tiện ra gánh vác việcnước nhà. Khi đó Ngài có làm câu đối để diễn tả hoàn cảnh của mình:
Sở dĩ người Nhựt muốn thi ân với Ngài là vì họ muốn gây cảmtình với khối tín đồ khổng lồ của Ngài để sau nầy có thể lợi dụng. Nhưng đã làmột người sáng suốt thì Ngài đâu có để cho bọn Nhựt lôi cuốn trong việc chuẩnbị của họ chống Đồng minh.
Sau cuộc đảo chánh mùng 9 tháng 3 dương lịch 1945,Ngài giữmột thái độ hết sức dè dặt vì Ngài biết chắc chắn rằng người Nhựt thế nào cũngthất trận. Lúc đó,Ngài nói một lời tiên tri rất bình dị " Nhật bổn ănkhông hết con gà ". Mà thiệt vậy ! Vì năm Dậu (con gà) mà cũng là năm 1945chưa hết, thì số phận nước Nhựt đã được định đoạt.
Năm 1945, nạn đói khủng khiếp đã xảy ra ở miền Bắc đưa đếnmột thảm hoạ bi thảm nhất trong lịch sử cận đại, gần hai triệu đồng bào bị chếtđói. Nhằm cứu vãn và chấm dứt nỗi đau chung, Đức Thầy đi Thuyết pháp – Khuyếnnông gần hai tháng qua 107 địa điểm và kết thúc vào ngày 26 – 6 âl ở Hòa Hảo." Vì lòng từ ái chứa chan, thương bá tánh đến hồi tai họa ", nên Ngàiđứng ra bảo vệ quốc gia và cứu nguy dân chúng. Ngài từng thành lập Phật GiáoLiên Hiệp Hội để đoàn kết đạo Phật, và Việt Nam Độc Lập Vận Động Hội để vậnđộng cuộc độc lập nước nhà.Sau khi Nhựt Hoàng đầu hàng Đồng minh không điều kiện, nước Việt Nam phải sốngmột thời kỳ bất ổn, Đồng bào Việt Nam đương lo sợ cảnh dịch chủ tái nô, ĐứcHuỳnh giáo Chủ liền hiệp với các lãnh tụ đảng phái và tôn giáo để thành lập Mặttrận Quốc gia Thống Nhứt hầu lên tiếng với ngoại bang. Mặt trận này lại xápnhập vào mặt trận Việt minh mà chính Đức Huỳnh Giáo Chủ là vị đại diện đầu tiênở Nam Việt.